Chắc các bạn vẫn còn nhớ thằng bạn Vinay người Ấn của tôi. Chương này tôi lại viết về nó, nhưng là Vinay phiên bản “người lớn”.
Tuần này ngày nào London trời cũng mưa. Trời đã tối lại càng ảm đạm. Khoảng hơn 2h chiều trời đã vội kéo mây đen xám xịt, và gió thì thổi phần phật như muốn tốc bay người đi đường. Thực ra tôi không sợ trời mưa, vì mưa London dẫu sao cũng không ầm ĩ như mưa Sài Gòn, cũng không lụt lội hay tắc đường kẹt xe. Nhưng tôi sợ nỗi buồn trong mưa, khi tan học về nhà, nhìn ra đường từ ô cửa sổ nhỏ trong phòng. Ngoài việc không có nắng và thiếu vitamin D thì cuộc sống London còn làm cho con người ta thiếu hơi ấm gia đình, mà cứ mỗi lần trời mưa là nỗi nhớ ấy lại dâng lên, đau đáu.
Tối thứ bảy ấy trời cũng mưa. Tôi pha một ly chocolate nóng, cố xua đi cơn ngủ gật để đọc nốt cho xong mớ tài liệu còn dang dở. Khoảng hơn 10h tối thì điện thoại tôi rung lên, là một cuộc điện thoại chứ không phải tin nhắn Whatsapp thông thường. “Có vẻ cấp bách đây,” tôi nghĩ thầm. Đầu dây bên kia giọng thằng Vinay hét toáng lên: “Mày ơi xuống nhà đi tao ở ngay dưới Great Portland nè. Lẹ lẹ dùm nha, à nhớ mặc ấm nha vì mình có khi sẽ đi xa đó!” Chưa kịp để tôi kịp định thần thì thằng Vinay cúp máy cái rụp, cũng sốt sắng như lúc nó gọi vậy.
Một phần vì tò mò không biết “đi xa” là đi đâu, một phần vì cũng đang chán chường, tôi vớ vội chiếc áo khoác dạ, trùm mũ len, găng tay rồi phi thẳng xuống nhà. Thằng Vinay tóc tai bù xù, chùm hụp mũ hoodie, thấy tôi liền cười toe toét. “Chân mày sao rùi, còn cà nhắc không. Chuẩn bị đi xa đó nha.” Chuyện là mấy hôm trước tôi bị trầy hết hai ngón chân, lột da chảy máu vì đôi ủng đặt online không vừa, nên cả tuần rồi cứ phải đi khập khiễng. Chắc để giúp tôi bớt đau, thằng Vinay huơ huơ ngón tay trỏ bị cắt một đường sâu hoắm, hồ hởi khoe: “Ngày nào đi làm tao cũng bị cắt phải tay. May mà chưa bao giờ cắt trúng ngón cũ he he.” Vinay đã đi làm phụ bếp được hơn một tháng. Hai đứa tôi vừa đi dọc Oxford Street, thằng Vinay vừa kể về một ngày đi làm quần quật của nó. Mỗi ngày nó làm từ 10h sáng tới 5h chiều, ba ngày trong tuần, vừa đủ chỉ tiêu được đi làm thêm tối đa 20h/ tuần của sinh viên. Nhưng thực ra chỉ có tuần đầu là đảm bảo 20h, còn những tuần sau nó đều phải ở lại phụ tới hơn 8h tối mới được thả vì quán đông, vào mùa lễ hội mà nhân viên lại thiếu. Xui cái nữa là Vinay nấu ăn giỏi, bếp núc quán xuyến hơi bị đỉnh, nên vô tình bị giao nhiều việc hơn. “Ê bữa nào tao chui vô bếp coi mày làm được không Vinay, chứ mẹ tao bảo tao vụng về quá, có gì hay cho tao học với!”, tôi hích cùi chỏ thằng Vinay. “Giờ tao toàn lột vỏ khoai tây với cắt khoai tây thôi, chưa có việc vip cho mày xem đâu. Nhưng cỡ hai tuần nữa, chú James hứa cho tao lên bếp chính phụ làm mấy món Tây, tao xin chú James cho mày vô rửa chén”. Nó hí hửng kể, mắt long lanh như thể trước mặt nó không phải Oxford Street mà là căn bếp chật ních ngổn ngang rau củ, tiếng dầu sôi, và tiếng chú James bếp trưởng liên tục hò hét.
Nhưng dĩ nhiên đó không phải lý do chính Vinay đòi rủ tôi “đi xa”. Nó cũng không biết nên đi bao xa, với cái chân cà nhắc của tôi và cơn mưa mỗi lúc một nặng hạt. Nhưng ít nhất là phải đi xa tới chừng nào nó bớt thấy nhớ nhà. Hóa ra thằng con trai to con như Vinay cũng có lúc thấy nhớ nhà. Rồi bỗng nhiên không biết vì mưa rơi vào mắt, hay trời lạnh quá nên nó chảy nước mũi, mà Vinay đưa tay hết chùi mắt rồi chùi mũi, khụt khịt. Tôi đứng như trời trồng, lần đầu tiên tôi mới thấy một thằng con trai khóc, sau thằng em tôi hồi hai đứa hay dành đồ chơi lúc nó nhỏ xíu. Hai đứa tôi lặng lẽ đi trong tiếng tíc tắc của mưa rơi, và tiếng khụt khịt của thằng Vinay, tôi chìa bàn tay ra khẽ nắm lấy cổ tay ú nụ của Vinay, như muốn nói với nó “Tao cũng khóc nhiều rồi, chỉ là mày chưa thấy.”
Rồi nó kể cho tôi nghe về mấy tuần đầu tiên của nó ở London, lúc tôi vẫn đang thu dọn hành lý ở Sài Gòn. Nó mang tận ba cái vali, ngổn ngang nào thuốc men, nào đồ ăn vặt, cả một cái gối ghiền mà mẹ nó lén nhét vào vì sợ lạ nhà nó không ngủ được. Từ bé tới lớn Vinay là “con của mẹ”, nên tuần đầu tiên qua đây sáng nào mẹ nó cũng phải gọi điện thoại kêu nó dậy đi học, còn nó thì nhận điện thoại xong thể nào cũng lén khóc vì nhớ mẹ, nhớ nhà. Dạo gần đây nó thôi không nhớ nữa, và mẹ nó cũng không còn phải gọi dựng nó dậy nữa. Nó đã biết nhiều hơn việc tự dậy đúng giờ. Vinay đã biết đi làm kiếm tiền, đã biết bị nghe la mắng, và đã biết ước mơ mở nhà hàng Ấn Độ to nhất London, lại còn biết mời tôi đi ăn bằng tháng lương phụ bếp đầu tiên của nó. Tôi thấy mình vẫn may mắn hơn nó, vì ít nhất học bổng giúp tôi không phải đóng tiền học phí, lại còn được ở một năm trong ký túc xá ngay trung tâm, cũng không phải đi về nhà mỗi ngày với một vết cứa mới.
Ở London, thời tiết ẩm ương, những nỗi buồn xa vời vợi và những chiếc hóa đơn đắt xắt ra nước mắt, cứ thế lâu lâu làm người ta yếu đuối. Nhưng tôi tin thằng Vinay tới hôm nay đã đi rất xa, xa hơn nhiều so với lời rủ rê “đi xa” của nó. Nó đã đi xa hơn từ Great Portland Street tới Southall, đã đi tới trạm “người lớn”, nơi những giọt nước mắt là giấy thông hành cho tấm vé trưởng thành. “Cứ mỗi ba tháng tao sẽ cho mày khóc một lần nha!”, tôi lắc lắc tay Vinay, đòi nó móc ngoéo. Nó cười mà cái miệng méo xệch “Mày cũng vậy nha, có muốn khóc thì đợi tao nhận lương nha. Khóc mà được ăn ngon thì còn đỡ!”
Tối hôm ấy, tôi về phòng muộn. Mưa vẫn rơi, nhưng bớt lạnh. Tôi nhìn ra ô cửa sổ nhỏ, thấy ánh đèn phản chiếu trên vũng nước như hàng ngàn chiếc vé nhỏ, mỗi chiếc dành cho một người đang tập làm người lớn.
Trưởng thành, tôi nghĩ, không phải là khi ta thôi khóc, mà là khi ta cho mình cái quyền được khóc vì những lý do lớn lao, và rằng sau nước mắt sẽ là một cái ngoắc tay chắc nịch, và sau cơn mưa London thì thể nào cũng có hôm nắng ấm. Và có lẽ, giữa London mưa gió này, cả tôi và Vinay đều đang trên chuyến tàu đó, chuyến tàu mang tên “lớn lên.”

